1
ÁN LỆ SỐ 77/2025/AL1
Về việc vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin tình trạng
bệnh hiểm nghèo của bên mua bảo hiểm
Được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua vào ngày
24 tháng 12 năm 2025 và được công bố theo Quyết định số 339a/QĐ-CA ngày 25
tháng 12 năm 2025 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.
Nguồn án lệ:
Quyết định giám đốc thẩm số 37/2023/DS-GĐT ngày 24/8/2023 của Hội
đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về vụ án dân sự “Tranh chấp hợp đồng
bảo hiểm” giữa nguyên đơn là cụ Đặng Ngọc M, bà Trần Thị T, chị Đặng Ngọc
Anh T1 với bị đơn là Tổng Công ty V; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
gồm 05 người.
Vị trí nội dung án lệ:
Đoạn 1, 2, 6, 7, 8 và 14 phần “Nhận định của Tòa án”.
Khái quát nội dung án lệ:
- Tình huống án lệ:
Trong đơn yêu cầu bảo hiểm, bên mua bảo hiểm không cung cấp thông tin
về tình trạng bệnh hiểm nghèo của mình, mặc dù biết rõ mình có bệnh này và đã
đi khám, chữa bệnh nhiều lần. Trong thời hạn hợp đồng bảo hiểm, bên mua bảo
hiểm chết do bệnh hiểm nghèo nêu trên.
- Giải pháp pháp lý:
Trường hợp này, Tòa án phải xác định bên mua bảo hiểm đã vi phạm nghĩa
vụ cung cấp thông tin tình trạng bệnh hiểm nghèo khi giao kết hợp đồng bảo hiểm
nhân thọ và doanh nghiệp bảo hiểm không phải chịu trách nhiệm bảo hiểm.
Quy định của pháp luật liên quan đến án lệ:
Điểm b khoản 2 Điều 18 và khoản 2 Điều 19 Luật Kinh doanh bảo hiểm
năm 2000 (tương ứng với điểm a khoản 2 Điều 21 và khoản 2 Điều 22 Luật Kinh
doanh bảo hiểm năm 2022, sử a đổi, bổ sung năm 2025).
Từ khóa của án lệ:
“Vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin”; “Tình trạng bệnh hiểm nghèo”;
“Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ”; “Trách nhiệm bảo hiểm”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại Đơn khởi kiện đề ngày 08/10/2016 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên
đơn là cụ Đặng Thị M, bà Trần Thị T và chị Đặng Ngọc Anh T1 trình bày:
Ngày 17/6/2014 và ngày 24/7/2014, ông Đặng Lâm Quốc B (là con của cụ
Đặng Ngọc M, chồng của bà Trần Thị T, cha của chị Đặng Ngọc Anh T1) có lập
1 Á n lệ này do Vụ Pháp chế và Quản lý khoa học Tòa án nhân dân tối cao đề xuất.
-- 1 of 8 --
2
03 giấy yêu cầu bảo hiểm để tham gia các gói bảo hiểm của Tổng Công ty V với
người được bảo hiểm là ông B, cụ thể:
- Giấy yêu cầu bảo hiểm An Phát Trọn Đời ngày 17/6/2014, giá trị bảo hiểm
là 1.500.000.000 đồng, thời hạn bảo hiểm trọn đời. Người được bảo hiểm: Ông
Đặng Lâm Quốc B, người thụ hưởng: Bà Trần Thị T. Ông B đã đóng phí bảo hiểm
01 năm là 30.843.000 đồng (Hợp đồng bảo hiểm chính: 30.000.000 đồng, sản
phẩm bổ trợ BV-NR17 - quyền lợi miễn đóng phí bảo hiểm các bệnh lý nghiêm
trọng: 843.000 đồng). Ngày 21/6/2014, đại diện Tổng Công ty V cho ông B kiểm
tra sức khỏe tại Bệnh viện đa khoa tư nhân Bình Dương. Ngày 25/6/2014, Tổng
Công ty V có thông báo chấp nhận bảo hiểm có điều kiện, đề nghị ông B nộp thêm
590.100 đồng phí bảo hiểm do tình trạng sức khỏe. Ngày 27/6/2014, Tổng Công
ty V ra thông báo chấp nhận bảo hiểm đối với ông B.
- Giấy yêu cầu bảo hiểm An Phát Hưng Gia ngày 24/7/2014, giá trị bảo hiểm
là 1.500.000.000 đồng, thời hạn bảo hiểm 20 năm. Người được bảo hiểm: Ông
Đặng Lâm Quốc B, người thụ hưởng: Cụ Đặng Ngọc M. Ông B đã đóng phí bảo
hiểm 01 năm là 53.480.000 đồng (Hợp đồng bảo hiểm chính: 50.000.000 đồng; sản
phẩm bổ trợ BV-NR15 - Bảo hiểm các bệnh lý nghiêm trọng: 420.000 đồng, sản
phẩm bổ trợ BV-NR16 - Bảo hiểm phẫu thuật và điều trị ngoại khoa: 1.215.000
đồng, sản phẩm bổ trợ BV-NR17 - Bảo hiểm các bệnh lý nghiêm trọng: 1.845.000
đồng. Ngày 29/7/2014, Tổng Công ty V có thông báo chấp nhận bảo hiểm có điều
kiện và đề nghị ông B nộp thêm 2.436.000 đồng (tăng phí do tình trạng sức khỏe).
Ngày 06/8/2014, Tổng Công ty V thông báo chấp nhận bảo hiểm cho ông B.
- Giấy yêu cầu bảo hiểm nhân thọ An Phát Trọn Đời ngày 24/7/2014, giá
tri bảo hiểm là 2.500.000.000 đồng, thời hạn bảo hiểm trọn đời. Người được bảo
hiểm: Ông Đặng Lâm Quốc B, người thụ hưởng: Chị Đặng Ngọc Anh T1. Ông B
đã đóng phí bảo hiểm 01 năm là 50.983.800 đồng (Hợp đồng bảo hiểm chính:
48.000.000 đồng; sản phẩm bổ trợ BV-NR15 - Bảo hiểm các bệnh lý nghiêm
trọng: 420.000 đồng, sản phẩm bổ trợ BV-NR16 - Bảo hiểm phẫu thuật và điều
trị ngoại khoa: 1.215.000 đồng, sản phẩm bổ trợ BV-NR17 - Bảo hiểm các bệnh
lý nghiêm trọng: 1.348.800 đồng. Ngày 29/7/2014, Tổng Công ty V có thông báo
chấp nhận bảo hiểm có điều kiện (tăng phí do tình trạng sức khỏe) và đề nghị ông B
nộp thêm 2.088.660 đồng. Ngày 06/8/2014, Tổng Công ty V thông báo chấp nhận
bảo hiểm và giao toàn bộ hợp đồng cho ông B.
Ngày 12/3/2015, ông B chết, nhưng Tổng Công ty V không đồng ý trả tiền
bảo hiểm cho những người thụ hưởng. Vì vậy, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa
án buộc Tổng Công ty V trả cho phía nguyên đơn số tiền bảo hiểm cho những
người thụ hưởng, cụ thể: cụ M, bà T mỗi người 1.500.000.000 đồng, chị T1 là
2.500.000.000 đồng.
Bị đơn là Tổng Công ty V trình bày: Tổng Công ty V thống nhất lời trình
bày của phía nguyên đơn về các hợp đồng bảo hiểm được ký kết giữa Tổng Công
ty V với ông Đặng Lâm Quốc B. Tuy nhiên, trước khi tham gia bảo hiểm, ông B
đã bị bệnh Carcinom kém biệt hóa di căn và Carcinom thần kinh nội tiết, nhưng
khai báo gian dối, vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin, thuộc trường hợp không
được bồi thường bảo hiểm. Do đó, Tổng Công ty V không chấp nhận yêu cầu khởi
kiện của phía nguyên đơn.
-- 2 of 8 --
3
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 134/2017/DS-ST ngày 25/9/2017, Tòa án
nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương đã quyết định:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cụ Đặng Ngọc M, bà Trần
Thị T, chị Đặng Ngọc Anh T1 đối với bị đơn Tổng Công ty V về việc tranh chấp
hợp đồng bảo hiểm.
Buộc Tổng Công ty V trả tiền bảo hiểm cho cụ Đặng Ngọc M là
1.500.000.000 đồng, cho bà Trần Thị T là 1.500.000.000 đồng, cho chị Đặng
Ngọc Anh T1 là 2.500.000.000 đồng.
Ngày 09/10/2017, Tổng Công ty V có đơn kháng cáo.
Tại Quyết định kháng nghị số 30/QĐKNPT-VKS-DS ngày 09/10/2017,
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương
đã kháng nghị phúc thẩm đối với bản án dân sự phúc thẩm nêu trên.
Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 47/2018/DS-PT ngày 06/3/2018, Tòa án
nhân dân tỉnh Bình Dương quyết định:
Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với Quyết định kháng nghị số 30/QĐKNPT-
VKS-DS ngày 09/10/2017 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố
Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.
Chấp nhận kháng cáo của Tổng Công ty V. Sử a bản án dân sự sơ thẩm.
Không nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cụ Đặng Ngọc M, bà Trần
Thị T, chị Đặng Ngọc Anh T1 đối với bị đơn Tổng Công ty V về việc tranh chấp
hợp đồng bảo hiểm.
Ngày 09/8/2018, cụ Đặng Ngọc M, bà Trần Thị T, chị Đặng Ngọc Anh T1 có
đơn đề nghị xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm bản án dân sự phúc thẩm nêu trên.
Tại
Quyết định số 201/2021/KN-DS ngày 07/12/2021 Chánh án Tòa án
nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh kháng nghị bản án dân sự phúc
thẩm nêu trên; đề nghị Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố
Hồ Chí Minh xét xử giám đốc thẩm hủy bản án dân sự phúc thẩm nêu trên, và hủy
Bản án dân sự sơ thẩm số 134/2017/DS-ST ngày 25/9/2017 của Tòa án nhân dân
thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương; giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân
thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương giải quyết sơ thẩm lại đúng quy định
của pháp luật.
Tại Quyết định giám đốc thẩm số 99/2022/DS-GĐT ngày 06/4/2022, Ủy
ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh quyết định:
Chấp nhận Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 201/2021/KN-DS ngày
07/12/2021 của Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Hủy Bản án dân sự phúc thẩm số 47/2018/DS-PT ngày 06/3/2018 của Tòa
án nhân dân tỉnh Bình Dương và hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 134/2017/DS-ST
ngày 25/9/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.
Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương
giải quyết sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.
-- 3 of 8 --
4
Ngày 17/6/2022, Tổng Công ty V có đơn đề nghị xem xét theo thủ tục giám
đốc thẩm đối với Quyết định giám đốc thẩm số 99/2022/DS-GĐT ngày 06/4/2022
của Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Tại Quyết định kháng nghị số 06/QĐ-VKS-DS ngày 25/4/2023, Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao kháng nghị đối với quyết định giám đốc
thẩm nêu trên của Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ
Chí Minh; đề nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc
thẩm, hủy Quyết định giám đốc thẩm số 99/2022/DS-GĐT ngày 06/4/2022 của
Toà án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, giữ nguyên Bản án dân sự
phúc thẩm số 47/2018/DS-PT ngày 06/3/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.
Tại phiên tòa giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao đề
nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao chấp nhận Quyết định kháng
nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Ngày 17/6/2014 và ngày 24/7/2014, ông Đặng Lâm Quốc B đã tham gia
các gói bảo hiểm An Phát Trọn Đời và An Phát Hưng Gia, người được bảo hiểm
là ông B, giá trị bảo hiểm cho từng yêu cầu bảo hiểm là 1.500.000.000 đồng (mức
phí 30 triệu đồng/năm trong 15 năm, người thụ hưởng là bà Trần Thị T),
2.500.000.000 đồng (mức phí 48 triệu đồng/năm trong 15 năm, người thụ hưởng
là chị Đặng Ngọc Anh T1) và 1.500.000.000 đồng (mức phí 50 triệu đồng/năm
trong 20 năm, người thụ hưởng là cụ Đặng Ngọc M).
[2] Theo các Giấy yêu cầu bảo hiểm ngày 17/6/2014, ngày 24/7/2014 thể
hiện tại các mục hỏi và trả lời về tình trạng sức khỏe cá nhân, ông B đều tích “x”
vào toàn bộ ô trả lời “không”, trong đó có câu hỏi số 17/A/II “Khối u (lành tính
hoặc ác tính), ung thư...”, câu hỏi số 27/C/II “Trong một năm vừa qua bạn có đi
khám bệnh và/hoặc làm xét nghiệm gì không? Có phải nghỉ học hoặc nghỉ làm
nhiều ngày để đi khám chữa bệnh không?” và câu hỏi số 30/C/II “Bạn có đang
mắc hoặc đang điều trị bệnh lý nào không?” Sau khi xác lập giấy yêu cầu bảo
hiểm, ngày 21/6/2014, Tổng Công ty V đã cho ông B kiểm tra sức khỏe tại Bệnh
Viện Đa khoa tư nhân Bình Dương. Theo Kết quả Kết luận kiểm tra sức khỏe tại
Bệnh viện đa khoa Bình Dương ngày 21/6/2014, ông B là người cung cấp các
thông tin kiểm tra sức khỏe, trong đó có nội dung câu hỏi: “Đã từng phải nằm viện
điều trị chưa? Khi nào? Lý do? Đợt nằm viện dài nhất là bao lâu? Điều trị nội
khoa hay ngoại khoa?”. Ông B tích “x” vào ô trả lời “Không” và kết quả này ông B
đã cam kết thông tin đã cung cấp cho cơ sở y tế của Tổng Công ty V là hoàn toàn
đầy đủ, đúng sự thật và các thông tin này được coi là thông tin bổ sung cho giấy
yêu cầu bảo hiểm liên quan và đã ký tên.
[3] Các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thể hiện ông Đặng Lâm Quốc B đã
từng làm xét nghiệm, khám sức khỏe và điều trị bệnh tại nhiều bệnh viện. Cụ thể:
[4] Tại Tóm tắt bệnh án số 670/KHTH-TTBA ngày 12/7/2016 của Bệnh
viện Ung bướu Thành phố Hồ Chí Minh thể hiện: Ông B nhập viện ngày
13/5/2014 với bệnh sử : Khỏi bệnh 5 tháng, bệnh nhân đau bụng, khám tại Bệnh
viện nhân dân 115 chẩn đoán hạch ổ bụng; giải phẫu bệnh: Carcinom kém biệt
-- 4 of 8 --
5
hóa di căn hạch; bệnh nhân qua Singapore điều trị 6 chu kỳ; chẩn đoán: Di căn
hạch toàn thân chưa rõ nguyên phát.
[5] Tại Công văn số 1135/BVUB-KHTH ngày 30/5/2017 của Bệnh viện
Ung bướu Thành phố Hồ Chí Minh, bệnh viện đã cung cấp toàn bộ hồ sơ bệnh án
của ông B cũng thể hiện ông B từng khám, xét nghiệm tại các bệnh viện: Bệnh
viện chuyên khoa ngoại thần kinh quốc tế tại kết quả chụp cộng hưởng từ MRI
bụng ngày 11/9/2013 kết luận: Khả năng hạch ác tính di căn. Phiếu xét nghiệm
giải phẫu bệnh của Bệnh viện nhân dân 115 ngày 27/9/2013 kết luận: Ông B bị
Carcinoma kém biệt hóa, di căn hạch; Bệnh viện Chợ Rẫy tại kết quả ghi hình
Pet - CT ngày 02/6/2014 kết luận: Tình trạng K tế bào thần kinh nội tiết đã điều
trị, hình ảnh Pet - CT hiện tại thấy: Các tổn thương ác tính tăng hoạt động chuyển
hóa ở các vị trí đầu và thân tụy, gan hạ phân thùy VII, hạch quanh tụy, dọc động
mạch chủ bụng, quanh bó mạch thận, bó mạch chậu chung trong ngoài hai bên và
chân hoành hai bên, hạch thượng đòn (T); so sánh với hình ảnh Pet - CT ngày
25/11/2013 chụp tại Singapore thấy các hạch tụy lớn hơn và tăng hoạt động chuyển
hóa hơn, tổn thương gan tăng hoạt động chuyển hóa hơn, xuất hiện hạch mới ở bó
mạch chậu trong ngoài hai bên, những tổn thương khác không thay đổi đáng kể.
[6] Ngày 11/3/2015, ông B vào Bệnh viện đa khoa Vạn Phúc: với tình trạng
nhiễm trùng đường hô hấp, viêm phổi; K tụy di căn gan, thận giai đoạn cuối,
chuyển cấp cứu Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Dương. Cùng ngày, ông B cấp cứu
và nhập viện tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Dương với tình trạng trụy tim mạch,
suy hô hấp, viêm phổi, K tụy di căn gan thận giai đoạn cuối. Ngày 12/3/2015, ông B
chết. Nguyên nhân chết được xác định trong Giấy chứng tử của Ủy ban nhân dân
xã T, huyện C, tỉnh Bình Dương: Chết do bệnh.
[7] Tại Công văn số 2624/BVUB-KHTH ngày 28/12/2016, Bệnh viện Ung
bướu Thành phố Hồ Chí Minh xác định ông B bị ung thư biểu mô di căn nhiều
nơi không rõ nguyên nhân phát, dạng ung thư biểu mô có độc ác cao, tình trạng
của bệnh nhân khi phát hiện thuộc giai đoạn cuối.
[8] Như vậy, có đủ cơ sở khẳng định trước khi xác lập Giấy yêu cầu bảo
hiểm với Tổng Công ty V vào các ngày 17/6/2014 và 24/7/2014, ông B đã biết rõ
về tình trạng bệnh tật của mình, đã từng tham gia chữa trị tại nhiêu bệnh viện khác
nhau ở cả trong nước và nước ngoài với tình trạng bệnh lý ung thư, nhưng không
khai báo trung thự c tình trạng sức khỏe của mình; tại thời điểm xác lập yêu cầu
bảo hiểm, ký hợp đồng bảo hiểm, ông B đang điều trị tại bệnh viện Ung bướu
Thành phố Hồ Chí Minh (từ ngày 13/5/2014 đến 19/8/2014 với tình trạng bệnh là
K hạch thần kinh nội tiết). Việc Tổng Công ty V yêu cầu phí tăng thêm dự a trên
kết quả kiểm tra sức khỏe của ông B là đối với những bệnh lý gan nhiễm mỡ, viêm
gan siêu vi B, rối loại chuyển hóa lipid máu, không liên quan đến bệnh lý ung thư
của ông B.
[9] Theo quy định tại Điều 4, Điều khoản An Phát Trọn Đời; Điều 4 Điều
khoản An Phát Hưng Gia thì “Bên mua bảo hiểm có nghĩa vụ cung cấp đầy đủ và
trung thự c tất cả những thông tin có liên quan đến người được bảo hiểm và hợp
đồng theo yêu cầu của Tổng Công ty V đồng thời hoàn toàn chịu trách nhiệm về
những thông tin đã cung cấp. Việc Tổng Công ty V tiến hành kiểm tra sức khỏe
của người được bảo hiểm (nếu có) không thay thế nghĩa vụ này”.
-- 5 of 8 --
6
[10] “Cố ý vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin được hiểu là việc bên mua
bảo hiểm cung cấp, kê khai không chính xác, không trung thự c hoặc che giấu các
thông tin quan trọng mà nếu biết được các thông tin này Tổng Công ty V đã không
chấp nhận bảo hiểm hoặc chấp nhận bảo hiểm nhưng phải kèm theo các điều kiện
bổ sung theo quy định của Tổng Công ty V”.
[11] Theo quy định tại điểm b, khoản 2, Điều 18 Luật Kinh doanh bảo hiểm
năm 2000, thì bên mua bảo hiểm có nghĩa vụ “Kê khai đầy đủ, trung thự c mọi chi
tiết có liên quan đến hợp đồng bảo hiểm theo yêu cầu của Doanh nghiệp bảo
hiểm”; khoản 1 Điều 19 Luật Kinh doanh bảo hiểm quy định: Bên mua bảo hiểm
có trách nhiệm cung cấp đầy đủ thông tin liên quan đến đối tượng bảo hiểm cho
doanh nghiệp bảo hiểm. Do đó, có cơ sở xác định bên mua bảo hiểm ông Đặng
Lâm Quốc B đã vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin theo quy định tại Điều 4,
Điều khoản An Phát Trọn Đời; Điều 4, Điều khoản An Phát Hưng Gia và Điều
18, Điều 19 Luật Kinh doanh Bảo hiểm năm 2000. Tòa án cấp sơ thẩm nhận định
không có cơ sở cho rằng ông B đã khai báo không trung thự c khi tham gia các
hợp đồng bảo hiểm, không có cơ sở để kết luận ông B vi phạm nghĩa vụ cung cấp
thông tin theo quy định tại Khoản 4.1 Điều 4 Điều khoản An Phát Trọn Đời và
An Phát Hưng Gia là không đúng. Tòa án cấp phúc thẩm xác định ông B vi phạm
nghĩa vụ cung cấp thông tin là có cơ sở.
[12] Theo quy định tại khoản 2 Điều 19 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm
2000 thì: “Doanh nghiệp bảo hiểm có quyền đơn phương đình chỉ thự c hiện hợp
đồng bảo hiểm và thu phí bảo hiểm đến thời điểm đình chỉ thự c hiện hợp đồng
bảo hiểm khi bên mua bảo hiểm có một trong những hành vi sau đây: a) Cố ý cung
cấp thông tin sai sự thật nhằm giao kết hợp đồng bảo hiểm để được trả tiền bảo
hiểm hoặc được bồi thường; b) Không thự c hiện các nghĩa vụ trong việc cung cấp
thông tin cho doanh nghiệp bảo hiểm theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 18
của Luật này”.
[13] Điều 4.2 Điều khoản An Phát Hưng Gia, Điều 4.2 Điều khoản An Phát
Trọn Đời quy định: Trường hợp bên mua bảo hiểm cố ý vi phạm nghĩa vụ cung cấp
thông tin, Hợp đồng sẽ chấm dứt hiệu lự c và Tổng Công ty V không phải hoàn lại
cho bên mua bảo hiểm số phí bảo hiểm định kỳ và phí bảo hiểm của sản phẩm bổ trợ
(nếu có) đã đóng mà chỉ hoàn lại giá trị tài khoản hợp đồng tương ứng với phí bảo
hiểm đóng thêm (nếu có) trừ đi các quyền lợi bảo hiểm đã thanh toán, các khoản rút
một phần giá trị tài khoản hợp đồng, khoản nợ (nếu có) và không phải chịu trách
nhiệm bảo hiểm về những rủi ro đã phát sinh đối với người được bảo hiểm.
[14] Như vậy, ông B đã vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin về sức
khỏe/bản thân, Hợp đồng bảo hiểm chấm dứt hiệu lự c, Tổng Công ty V không
phải chịu trách nhiệm bảo hiểm về những rủi ro đã phát sinh đối với người được
bảo hiểm. Trường hợp này, Tổng Công ty V chỉ phải hoàn lại giá trị tài khoản hợp
đồng tương ứng với phí bảo hiểm đóng thêm (nếu có) trừ đi các quyền lợi bảo
hiểm đã thanh toán, các khoản rút một phần giá trị tài khoản hợp đồng, khoản nợ
(nếu có). Tuy nhiên, theo Bảng minh họa về phân bổ phí và quyền lợi bảo hiểm
của hợp đồng chính thì giá trị hoàn lại năm đầu tiên người mua bảo hiểm được
nhận khi hợp đồng chấm dứt hiệu lự c theo quy định của hợp đồng là bằng không.
Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm cho rằng Tổng Công ty V đã chấp nhận bảo hiểm và
-- 6 of 8 --
7
bên mua bảo hiểm đã đóng phí bảo hiểm nên buộc Tổng Công ty V phải có trách
nhiệm chi trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng là cụ M, bà T, chị T1 là không
có cơ sở. Tòa án cấp phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên
đơn về việc buộc Tổng Công ty V chịu trách nhiệm bảo hiểm là có cơ sở. Quyết
định giám đốc thẩm cho rằng Tổng Công ty V phải có trách nhiệm trả tiền bảo
hiểm cho phía nguyên đơn, nhưng phải xem xét lỗi của người yêu cầu bảo hiểm
trong việc cung cấp thông tin về sức khỏe để xác định mức chi trả bảo hiểm tương
ứng là không đúng với quy định tại Điều 4.4.2 của Điều khoản An Phát Trọn Đời
và Điều 4.4.2 của Điều khoản An Phát Hưng Gia.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 337, khoản 2 Điều 343, Điều 344 Bộ luật Tố
tụng dân sự năm 2015;
1. Chấp nhận Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 06/QĐ-VKS-DS
ngày 25/4/2023 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
2. Hủy Quyết định giám đốc thẩm số 99/2022/DS-GĐT ngày 06/4/2022 của
Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh về vụ
án “Tranh chấp hợp đồng bảo hiểm” giữa nguyên đơn là cụ Đặng Ngọc M, bà
Trần Thị T và chị Đặng Ngọc Anh T1 với bị đơn là Tổng Công ty V và những
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác.
3. Giữ nguyên Bản án dân sự phúc thẩm số 47/2018/DS-PT ngày 06/3/2018
của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.
NỘI DUNG ÁN LỆ
“[1] Ngày 17/6/2014 và ngày 24/7/2014, ông Đặng Lâm Quốc B đã tham
giạ các gói bảo hiểm An Phát Trọn Đời và An Phát Hưng Gia, người được bảo
hiểm là ông B, giá trị bảo hiểm cho từng yêu cầu bảo hiểm là 1.500.000.000 đồng
(mức phí 30 triệu đồng/năm trong 15 năm, người thụ hưởng là bà Trần Thị T),
2.500.000.000 đồng (mức phí 48 triệu đồng/năm trong 15 năm, người thụ hưởng
là chị Đặng Ngọc Anh T1) và 1.500.000.000 đồng (mức phí 50 triệu đồng/năm
trong 20 năm, người thụ hưởng là cụ Đặng Ngọc M).
[2] Theo các Giấy yêu cầu bảo hiểm ngày 17/6/2014, ngày 24/7/2014 thể
hiện tại các mục hỏi và trả lời về tình trạng sức khỏe cá nhân, ông B đều tích “x”
vào toàn bộ ô trả lời “không”, trong đó có câu hỏi số 17/A/II “Khối u (lành tính
hoặc ác tính), ung thư...”, câu hỏi số 27/C/II “Trong một năm vừa qua bạn có đi
khám bệnh và/hoặc làm xét nghiệm gì không? Có phải nghỉ học hoặc nghỉ làm
nhiều ngày để đi khám chữa bệnh không?” và câu hỏi số 30/C/II “Bạn có đang
mắc hoặc đang điều trị bệnh lý nào không?” Sau khi xác lập giấy yêu cầu bảo
hiểm, ngày 21/6/2014, Tổng Công ty V đã cho ông B kiểm tra sức khỏe tại Bệnh
Viện Đa khoa tư nhân Bình Dương. Theo Kết quả Kết luận kiểm tra sức khỏe tại
Bệnh viện đa khoa Bình Dương ngày 21/6/2014, ông B là người cung cấp các
thông tin kiểm tra sức khỏe, trong đó có nội dung câu hỏi: “Đã từng phải nằm
viện điều trị chưa? Khi nào? Lý do? Đợt nằm viện dài nhất là bao lâu? Điều trị
nội khoa hay ngoại khoa?”. Ông B tích “x” vào ô trả lời “Không” và kết quả này
-- 7 of 8 --
8
ông B đã cam kết thông tin đã cung cấp cho cơ sở y tế của Tổng Công ty V là
hoàn toàn đầy đủ, đúng sự thật và các thông tin này được coi là thông tin bổ sung
cho giấy yêu cầu bảo hiểm liên quan và đã ký tên.”.
“[6] Ngày 11/3/2015, ông B vào Bệnh viện đa khoa Vạn Phúc: với tình
trạng nhiễm trùng đường hô hấp, viêm phổi; K tụy di căn gan, thận giai đoạn
cuối, chuyển cấp cứu Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Dương. Cùng ngày, ông B cấp
cứu và nhập viện tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Dương với tình trạng trụy tim
mạch, suy hô hấp, viêm phổi, K tụy di căn gan thận giai đoạn cuối. Ngày
12/3/2015, ông B chết. Nguyên nhân chết được xác định trong Giấy chứng tử của
Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Bình Dương: Chết do bệnh.
[7] Tại Công văn số 2624/BVUB-KHTH ngày 28/12/2016, Bệnh viện Ung
bướu Thành phố Hồ Chí Minh xác định ông B bị ung thư biểu mô di căn nhiều
nơi không rõ nguyên nhân phát, dạng ung thư biểu mô có độc ác cao, tình trạng
của bệnh nhân khi phát hiện thuộc giai đoạn cuối.
[8] Như vậy, có đủ cơ sở khẳng định trước khi xác lập Giấy yêu cầu bảo
hiểm với Tổng Công ty V vào các ngày 17/6/2014 và 24/7/2014, ông B đã biết rõ
về tình trạng bệnh tật của mình, đã từng tham gia chữa trị tại nhiêu bệnh viện
khác nhau ở cả trong nước và nước ngoài với tình trạng bệnh lý ung thư, nhưng
không khai báo trung thực tình trạng sức khỏe của mình; tại thời điểm xác lập
yêu cầu bảo hiểm, ký hợp đồng bảo hiểm, ông B đang điều trị tại bệnh viện Ung
bướu Thành phố Hồ Chí Minh (từ ngày 13/5/2014 đến 19/8/2014 với tình trạng
bệnh là K hạch thần kinh nội tiết). Việc Tổng Công ty V yêu cầu phí tăng thêm
dựa trên kết quả kiểm tra sức khỏe của ông B là đối với những bệnh lý gan nhiễm
mỡ, viêm gan siêu vi B, rối loại chuyển hóa lipid máu, không liên quan đến bệnh
lý ung thư của ông B.”.
“[14] Như vậy, ông B đã vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin về sức
khỏe/bản thân, Hợp đồng bảo hiểm chấm dứt hiệu lực, Tổng Công ty V không
phải chịu trách nhiệm bảo hiểm về những rủi ro đã phát sinh đối với người được
bảo hiểm. Trường hợp này, Tổng Công ty V chỉ phải hoàn lại giá trị tài khoản
hợp đồng tương ứng với phí bảo hiểm đóng thêm (nếu có) trừ đi các quyền lợi
bảo hiểm đã thanh toán, các khoản rút một phần giá trị tài khoản hợp đồng, khoản
nợ (nếu có). Tuy nhiên, theo Bảng minh họa về phân bổ phí và quyền lợi bảo hiểm
của hợp đồng chính thì giá trị hoàn lại năm đầu tiên người mua bảo hiểm được
nhận khi hợp đồng chấm dứt hiệu lực theo quy định của hợp đồng là bằng không.
Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm cho rằng Tổng Công ty V đã chấp nhận bảo hiểm và
bên mua bảo hiểm đã đóng phí bảo hiểm nên buộc Tổng Công ty V phải có trách
nhiệm chi trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng là cụ M, bà T, chị T1 là không
có cơ sở. Tòa án cấp phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên
đơn về việc buộc Tổng Công ty V chịu trách nhiệm bảo hiểm là có cơ sở. Quyết
định giám đốc thẩm cho rằng Tổng Công ty V phải có trách nhiệm trả tiền bảo
hiểm cho phía nguyên đơn, nhưng phải xem xét lỗi của người yêu cầu bảo hiểm
trong việc cung cấp thông tin về sức khỏe để xác định mức chi trả bảo hiểm tương
ứng là không đúng với quy định tại Điều 4.4.2 của Điều khoản An Phát Trọn Đời
và Điều 4.4.2 của Điều khoản An Phát Hưng Gia.”.
-- 8 of 8 --