CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúcliên lạc là xảy ra mâu thuẫn cãi vã, nên tôi có làm đơn khởi kiện ra Tòa án nhân dân
khu vực 7 – Đắk Lắk giải quyết ly hôn và được Tòa án thụ lý vụ án số
50/2025/HNGĐ, ngày 28/07/2025, sau khi Tòa án thụ lý vợ chồng chúng tôi có suy
nghĩ lại và tiếp tục chung sống bản thân tôi có rút đơn và Tòa án đã ra Quyết định đình
2
chỉ giải quyết vụ án số 40/2025/QĐ – ST ngày 26/09/2025. Tuy nhiên thời gian này về
chung sống mâu thuẫn ngày trầm trọng hơn, không thể hòa hợp được, nay xét thấy tình
cảm không còn mục đích hôn nhân không đạt được, nếu tiếp tục chung sống thì không
mang lại hạnh phúc cho nhau. Nên tôi làm đơn đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 7 –
Đắk Lắk giải quyết được ly hôn với ông Vũ Minh K (Vũ Văn K).
+ Về con chung: Trong thời gian chung sống vợ chồng chúng tôi sinh được 04 người
con chung các cháu tên.
1. Cháu Vũ Quỳnh A1, sinh ngày 14/05/1999.
2. Cháu Vũ Việt A, sinh ngày 27/11/2001.
3. Cháu Vũ Thị Kim K2, sinh ngày 22/04/2005.
4. Cháu Vũ Cát T1, sinh ngày 28/02/2016.
Đối với 03 cháu đầu đã trưởng thành trên 18 tuổi nên không yêu cầu giải quyết còn đối
với cháu T1 sẽ do tôi trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc đến tuổi trưởng thành.
Về trợ cấp phí tổn nuôi dưỡng con chung: Tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải
quyết.
+ Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Tại bản khai bị đơn ông Vũ Minh K (Vũ Văn K) trình bày: Tôi và bà Nguyễn
Thị T có về chung sống với nhau trên cơ sở tình yêu tự nguyện và có đăng ký kết hôn
tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Nam Định vào ngày 26/06/1998.
Trong quá trình chung sống thời gian đầu hạnh phúc, đến đầu năm 2021 thì vợ chồng
phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân tính cách hai vợ chồng không hòa hợp được nên
mâu thuẫn xảy ra, dẫn đến cãi vã, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng hơn không thể hàn
gắn hay đoàn tụ được, dẫn đến hai vợ chồng chúng tôi không sống chung với nhau từ
năm 2023 cho đến nay, trong khoảng thời gian này chúng tôi không còn quan tâm
chăm sóc yêu thương nhau nữa. nên vợ tôi làm đơn ly hôn thì bản thân tôi vẫn đồng ý.
Về con chung: Trong thời gian chung sống, vợ chồng tôi sinh được 04 con chung:
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.